TRANH
TẾT VIỆT NAM
Bài này không mang tính
chất tham vọng nghiên cứu Mỹ thuật cổ
truyền Việt Nam. V́ nếu vậy
phải có một công tŕnh nghiên cứu rộng lớn
hơn, mà khả năng một vài cá nhân không thể
đảm trách được.
Trong phạm vi
bài này, người viết chỉ điểm qua vài nét
đại cương quá tŕnh mỹ thuật Việt nam
phát triển qua các thời kỳ, các triều đại
trước, và giới thiệu sơ lược một
ḍng tranh dân gian bộc phát ở thế kỷ XV đầy
tính chất lăng mạng và trào lộng: đó là D̉NG TRANH
TẾT.
Nước
Việt nam có một quá tŕnh lịch sử trên 4000 năm.
Mỹ thuật Việt nam đă có vai tṛ đóng góp tích
cực trong quá tŕnh phát triển văn hóa dân tộc qua các
thời đại từ thời nguyên thủy cho
đến ngày nay mỹ thuật xuyên suốt qua bao quá tŕnh
tiến hóa, có lúc mỹ thuật đă đóng vai tṛ ngôn
ngữ để diễn đạt ư thức hệ
của con người.
A ) MỸ THUẬT PHÁT
TRIỂN QUA CÁC THỜI KỲ
Thời
Tiền sử: Rất đơn giản trong các
phương tiện nhuộm ḿnh (da), vừa dùng để
chống thú dữ hoặc trang sức trong khiếu
thẩm mỹ thô thiển của người nguyên thủỵ.
Thời
khai quốc: Cách đây trên 4000 năm
, thời dựng nước của các vua Hùng, c̣n
gọi là thời kỳ đồ đồng. Con
người đă biết mỹ thuật trang trí, tạo
h́nh, tuy c̣n rất đơn sơ.
Thời
Văn Lang: Khoảng 2350 năm trước
Công nguyên, đă xuất hiện trống đồng, tượng
thần, đồ trang sức như: ṿng chân, ṿng tay, hoa
tai. Bước đầu vào nghệ
thuật đồ gốm. Nét tạo h́nh đă
diễn đạt được người và thú
bằng kư họa đơn sơ.
Thời
Âu Lạc: Dưới thời An Dương
Vương đă xây Cổ Loa Thành theo h́nh trôn ốc
tổng chiều dài 16Km. Đây là một công tŕnh kiến
trúc vĩ đại, một vài măng di tích vẫn c̣n lưu
lại trên nền móng củ. Về mỹ
thuật đă có đồ gia dụng bằng đất
sét nung tạo h́nh trang trí hoa văn (thế kỷ I-IV).
Thời
Đại La: (Thành Đại La là thủ đô
VN thuở ấy, nay thuộc nội thành Hà nội). Đồ gia dụng bằng gốm hoặc
đất nung, một vài loại đă được
tráng men. Nét tạo h́nh trang trí ảnh
hưởng nhiều vào mỹ thuật Trung hoa (Đời
Tùy và Đường). Dưới
thời Ngô Quyền xuất hiện gạch ngói bằng
đất nung trang trí hoa văn có tráng men mang niên hiệu
tương ứng năm 939.
Thời
nhà Lư: Mỹ thuật chịu ảnh
hưởng Phật giáo rất sâu đậm, thời
kỳ này thịnh hành kiến trúc, điêu khắc trên
đá và gốm. Nhiều tượng Phật thời này
c̣n lưu truyền lại đến nay (răi rác ở các
tỉnh miền Bắc VN, một số trong các viên bảo
tàng mỹ
thuật Pháp).
Thời
nhà Trần: Tiếp tục quá tŕnh mỹ
thuật nhà Lư. Chạm trổ đă có nét tạo h́nh trau
chuốt hơn ảnh hưởng đường nét
rập khuôn Trung hoa như mây - sóng nước - hoa sen.
Nhưng h́nh rồng thể hiện mạnh mẽ hơn
h́nh rồng Trung hoa, có hàm ư không khuất phục, không
chịu lệ thuộc. Bố cục đối xứng
và đơn giản.
Thời
nhà Lê: Có một bước chuyển
tiếp mới, cố thoát khỏi ảnh hưởng
của mỹ thuật Trung hoa. Trong nét họa trang trí không
c̣n rập khuôn tiêu biểu là h́nh rồng: thân h́nh khơe,
đầu to có sừng, thêm lông gáy nhiều màu sắc, Chân
có móng nhọn, tuy nhiên giừa những đám mây thêm vào
những ngọn lữa h́nh mũi giáo theo
mẫu mực của người Trung hoa. (Điện
Kinh Thiên ở Hà Nội, Lam Sơn ở Thanh Hóa).
Thời
Hậu Lê: Phát triển thủ công nghiệp,
kiến trúc, khắc chạm trên kim
loại quí, gỗ quí. Tranh chân dung trên lụa trong thời
kỳ này có đường nét tạo h́nh uyển
chuyển, khoán đạt. Đặc trưng nét dân gian mang
nặng tính chất dân tộc, thay các h́nh tượng thiên
nhiên bằng những sinh hoạt dân gian như đốn
gỗ, săn bắn, chèo đ̣, đi cày v.v..
.. Bớt chịu ảnh hưởng Trung hoa
như hậu bán thế kỷ XV. Thời
kỳ này có lúc ngành điêu khắc, kiến trúc bị
hạn chế v́ đất nước phân tranh.
Ngược lại bộc phát nét sáng tạo trên tranh khắc
gỗ, tranh vẽ trên giấy bồi, lụa, màu
được chế tạo từ khóan sản và thảo
mộc. Một vài tác phẩm c̣n lưu lại như
tượng Phật Bà ngh́n tay ở chùa
Bút tháp (Hà bắc). Tượng Tuyết
Sơn và 18 vị La Hán ở chùa Tây phương (Hà Tây).
Thời
nhà Nguyễn: Một thời cực thịnh
của kiến trúc
và điêu khắc. Những công tŕnh lớn
như Hoàng thành, chùa, miếu, và lăng
tẩm. Các công tŕnh có bố cục vững chắc, khoán
đạt và có sáng tạo. Một vài nhóm nghệ nhân
xử dụng thủ thuật lai tạo các ảnh
hưởng Trung hoa, Nhật, Triều Tiên, Thái Lan, Ấn
Độ và kể cả Tây Phương thành một phong
thái đặc biệt giàu tính chất dân tộc.
Năm 1923 nền Mỹ thuật
Việt Nam
bắt đầu vào nề nếp có hệ thống. Xây dựng nền giáo dục mỹ
thuật theo chiều hướng phát
triển của thế giới trong 3 lảnh vực
hội họa, kiến trúc và điêu khắc.
B ) TRANH TẾT
Tranh
Tết c̣n gọi là tranh mộc bản, tranh Đông Hồ.
V́ loại tranh này sản xuất theo
phương thức khắc bản gỗ in ra và
thường do nghệ nhân làng Đông Hồ sản
xuất nhiều nhất.
Dù là gọi tên ǵ đi
nữa, loại tranh này vẫn được chưng bày và bán cho dân chúng xử dụng
trong ngày Tết Nguyên Đán. Nguồn gốc
xuất xứ loại tranh này đang c̣n nhiều bàn
cải và chưa có chứng minh cụ thể.
Dựa vào gia
phả vài ḍng họ có liên quan th́ tranh Tết có từ
đời nhà Lư (1010-1225) nhưng có giả thuyết cho
rằng nó mới xuất hiện trong đời nhà Hồ
(1400-1414) và được phát triển mạnh mẽ từ
đời nhà Lê (1533-1788) cho đến nay.
Theo các nghệ nhân làng Đông
Hồ (Bắc Ninh) và Nam Đàn (Nghệ an) loại tranh này
từ Trung Hoa du nhập vào VN từ thế kỷ XV do
cụ Lương Nhử Học
đổ tiến sĩ đời Lê, đi sứ
Trung hoa học được nghề mang về dạy cho
dân. Tuy nhiên khi được du nhập vào VN đă biến
thể từ h́nh thức đến nội dung trở
thành một loại tranh có đặc thù cá tính dân tộc.
Nhưng theo một số nhà nghiên
cứu sau 1975 và cuộc triển lăm với tựa
đề (Những họa sĩ nông dân VN) Peintres paysans du VN tổ
chức tại nhà văn hóa Bourges (Pháp) tháng 6 năm 1978,
họ gộp chung với một số kư họa mới
sau này và cho nó một mốc thời gian xuất xứ là
tranh thế kỷ 19. Thỉnh thoảng trên
báo chí VN ở hải ngoại ghi đề tựa một
vài bức (Tranh mộc bản VN đầu thế kỷ
20).
Những
bức tranh Tết này đều có hàm ẩn những
nội dung cao xa, những ư nghĩa thâm thúy, mang nặng tính
chất đặc thù dân tộc, có tính cách giáo dục, trào
lộng, đôi khi c̣n lồng vào những nét châm biếm
nhẹ nhàn. Có thể phân loại tranh Tết như sau:
Tranh
chúc tụng: Tranh gà, tranh
lợn, tướng quân, tiến sĩ, Phúc-Lộc-Thọ
(h́nh vẽ hoặc chữ) môĩ tấm tranh có mỗi ư
nghĩa của lời chúc: an lành, giàu
sang, tăng phẩm hàm chức tước hoặc đông
con.
Tranh
để thờ phượng: như táo quân, Phật
Bà, Thổ công, tứ b́nh (4 loại hoa hay quả), tứ
linh (lân, long, qui, phượng), tứ thời (xuân, hạ,
thu, đông).
Tranh
lịch sử: Vẽ các
anh hùng liệt nữ như Lư thường Kiệt, Hai bà
Trưng, Bà Triệu, Trần hưng Đạo, Ngô
Quyền v v..
Tranh
giáo dục: cóc đi
học, Nhị thập tứ hiếu (24 người
giữ đạo hiếu), tranh ngụ ngôn.
Tranh
trào lộng: Chuột
đỗ trạng nguyên, chuột vinh qui, đám
cưới chuột, chuột mèo hóa giải, hái dừa,
thầy đồ cóc.v.v..
Về
phương diện nghệ thuật tạo h́nh là loại
nghệ thuật phổ biến, đơn giản. Đường nét giản dị và tùy tiện,
tạo cho tranh một thể hiện mộc mạc dể
cảm. Mầu sắc rực rỡ và chú trọng
nhất là đường nét đen chạy viền,
bố cục không g̣ bó theo luật tương
xứng.
Tranh Tết
mỗi năm mỗi phong phú thêm từ đề tài cho
đến ấn bản. Có lúc lên
đến trên hai triệu bản/năm. Cho
đến năm 1940 khi phong trào Cộng sản Đông
Dương nổi dậy, h́nh như loại tranh này
bị xếp chung vào loại văn hóa
suy đồi, mê tín nên từ từ tàn lụn cho
đến ngày nay ít c̣n thấy xuất hiện trên thị
trường trong mấy ngày Tết.
Cách sản xuất loại
tranh này rất đơn giản, nghệ nhân khắc
đường nét lên gỗ cứng (thường dùng
gỗ cây thị) tiếp đến bôi mầu lên bản
khắc, rồi in lên giấy hay lụa bồi
. Giấy hoặc lụa được
hồ sẳn bằng bột phấn trắng chế
tạo bởi vỏ ṣ (điệp) cho nên gọi là
phấn điệp. Các mầu khác lấy từ khoán
sản hay thảo mộc.
Tranh Tết thường có 5
mầu chính :
Mầu
trắng : (bột phấn điệp).
Mầu xanh c̣n gọi là xa thanh (bột
óng ánh xay từ vỏ xà-cừ).
Mực
Tàu.
Ngân
nhủ: (bột bạc).
Kim nhủ (bột vàng, dồng).
Ngoài 5 mầu chính gọi là
thuốc cái, nghệ nhân c̣n xử dụng thêm các mầu
phụ như chu sa, son Tàu, cánh sen nhạt, hồng phấn
v.v.. Về sau dùng thêm các mầu vàng, xanh
biển, lam, nâu làm cho tranh càng ngày màu sắc trở nên
rực rỡ và phong phú hơn.
Tranh mộc bản VN màu
sắc tươi vui, ḷe loẹt . Nét tạo h́nh mạnh mẽ, mộc mạc
thể hiện bản sắc dân tộc độc đáo
cuả người VN hiền ḥa chất phát. Không chứa đựng nét quí phái, nhẹ nhàn
thơ mộng như tranh mộc bản của Nhật,
cũng không kín đáo, trầm lặng, sâu sắc như
tranh mộc bản của Trung hoa.
Tranh Tết VN là
loại tranh mộc mạc chân chất đi thẳng vào
ḷng người những cảm xúc khi th́ tôn nghiêm thờ
phượng, khi th́ b́nh lặng suy tư, khi th́ khuyên bảo
hoặc châm biếm nhẹ nhàn. Làm cho
ḷng người nồng ấm thêm một niềm tin,
một chút kiêu hảnh bỏi gịng giống Tổ Tiên,
hoặc thêm một tiếng cười hồn nhiên gịn giă
trong ba ngày Tết.
Một hàn sĩ ngày xưa
đă tóm gọn một cái Tết đầy âm vang và
mầu sắc trong hai câu thơ sau:
Đ́ đạch ngoài sân tràng
pháo chuột,
Đỏ ḷm trên
vách bức tranh gà. (TTX)
(Viết theo tài
liệu của Trường CAO ĐẲNG MỸ THUẬT
HUẾ trước 1975 và những sưu tầm sau này . Đă phổ biến
bản Anh ngữ (do TRUONG THANH chuyển ngữ).
Olympia, USA 1998
TRAN
HAI